Trung Quốc ngang ngược điều thêm hơn 50 tàu chiế-n xuống khu vực bãi Tư Chính, cố tình gây hấn

July 27, 2019 Lượt xem: 1570

Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyê’t yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc có động thái tương tự. Dường như các biện pha’p kể trên vẫn chưa đủ mạnh?
Trong buổi phỏng vấn của ph0ng viên báo điện tử Người Đưa Tin, chuyên gia pha’p lý Nguyễn Thị Lan Hương của Viện Biển Đông (Học viện Ngoại giao Việt Nam) đã đưa ra câu trả lời thỏa đáng cho thắc mắc trên. Đồng thời, dưới góc độ chuyên môn, bà cũng cung cấp những lập luận sắc bén chứng tỏ hành vi vi phạm luật pha’p quốc tế một cách n.g.h.i.ê.m t.r.ọ.n.g của Trung Quốc.

Thưa bà, hành động của nhóm tàu khảo s.á.t địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc vào vùng đ.ặ.c.q.u.y.ề.n kinh tế của Việt Nam có mức độ vi phạm luật pha’p quốc tế như thế nào?

Thứ nhất, hoạt động của nhóm tàu khảo s.á.t địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc tại khu vực Tư Chính-Vũng Mây là vi phạm n.g.h.i.ê.m t.r.ọ.n.g đối với các quy định của luật pha’p quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.


Theo điều 56, điều 77 và điều 246 của UNCLOS 1982, chỉ có quốc gia ven biển được thực hiện các quyền chủ quyền về thăm dò, khai thác bảo tồn, quản lý các tài nguyên thiên nhiên, quyền tài pha’n đối với việc lắp đặt đảo nhân tạo, các thiết bị công trình cũng như hoạt động nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển. Mọi hoạt động nghiên cứu khoa học biển trong vùng đ.ặ.c.q.u.y.ề.n kinh tế và thềm lục địa chỉ được tiến hành với sự chấp thuận của quốc gia ven biển.

Khu vực Trung Quốc tiến hành khảo s.á.t địa chất nằm hoàn toàn trong phạm vi vùng đ.ặ.c.q.u.y.ề.n kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam theo Công ước UNCLOS 1982, Luật biển Việt Nam năm 2012. Hơn nữa, Phán quyê’t của Toà trọng tài trong vụ kiện Biển Đông năm 2016 đã khẳng định yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc không có giá trị, do đó, khu vựcphíaNam của Biển Đông không thể là đối tượng yêu sách của Trung Quốc.

Thứ hai, hành vi này của Trung Quốc cũng đi ngược lại những cam kết, thoả thuận song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giải quyê’t các vấn đề biên giới lãnh thổ, đặc biệt là Thoả thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo vấn đề trên biển năm 2011; đi ngược lại tinh thần của Tuyên bố về cách ứng x,ử của các bên trên Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002. Trung Quốc đang áp dụng tiêu chuẩn kép, một mặt kêu gọi các bên hợp tác, thúc đẩy đàm pha’n về Bộ Quy tắc ứng x,ử COC trong ba năm, mặt khác lại thường xuyên tiến hành các hành vi “c.ư.ỡ.n.g ép” trên thực địa, gây căng thẳng, phức tạp tình hình.


Tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc.

Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyê’t yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc có động thái tương tự. Dường như các biện pha’p kể trên vẫn chưa đủ mạnh?

Các biện pha’p hiện nay của Việt Nam là trao đổi trực tiếp, đấu tranh bằng biện pha’p hoà bình phù hợp với luật pha’p và chuẩn mực quốc tế. Các biện pha’p này có tác dụng để các nước hiểu được lập trường chính đáng của Việt Nam, phê pha’n, phản bác các hành vi vi phạm pha’p luật của Trung Quốc. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng không loại trừ bất cứ biện pha’p hoà bình nào mà luật pha’p quốc tế cho phép để bảo vệ các lợi ích hợp pha’p của Việt Nam, trong đó có cả khả năng sử dụng toà án hay trọng tài quốc tế.

Những biện pha’p này có thể không tác dụng ngay, nhưng có ý nghĩa về dài hạn, thể hiện hình ảnh một Việt Nam chín chắn, trách nhiệm, có thái độ tích cực, có tính xây dựng để quản lý khủng hoảng, quản lý tranh chấp một cách hiệu quả. Thực tế lịch sử cho thấy cách tiếp cận này cùng các biện pha’p như trên có hiệu quả về tổng thể, đảm bảo đạt được mục tiêu kép là vừa duy trì hoà bình, vừa bảo vệ công lý, chuẩn mực và luật pha’p quốc tế, đẩy lùi các hành vi xâm lấn trái phép vùng biển Việt Nam của các thế lực nước ngoài.

Với động thái đưa tàu vào vùng đ.ặ.c.q.u.y.ề.n kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, theo bà, mục tiêu của Trung Quốc là gì?

Trung Quốc không chỉ x.â.m p.h.ạ.m vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài pha’n của Việt Nam mà còn x.â.m p.h.ạ.m các vùng biển của các nước ven biển Đông khác. Điều đó cho thấy Trung Quốc x.â.m p.h.ạ.m vùng đ.ặ.c.q.u.y.ề.n kinh tế, thềm lục địa của các nước khác một cách có hệ thống, nhằm biến khu vực không tranh chấp thành có tranh chấp, thể hiện tham vọng kiểm soát Biển Đông và tái khẳng định chủ quyền phi pha’p trên Biển Đông thông qua yêu sách đường lưỡi bò phi lý.

Về lâu dài, Trung Quốc muốn kiểm soát hoàn toàn Biển Đông, đẩy các cường quốc khác ra khỏi khu vực này, và có thể thiết lập một hệ thống quy tắc mới trên Biển Đông trái với UNCLOS 1982, phù hợp với lợi ích riêng của nước này.

Bà đa’nh giá như thế nào về phản ứng của dư luận quốc tế đối với việc Trung Quốc vi phạm vùng đ.ặ.c.q.u.y.ề.n kinh tế và thềm lục địa Việt Nam?

Dư luận quốc tế phản ứng mạnh hành vi vi phạm chủ quyền biển của Việt Nam. Nhiều học giả quốc tế của Nga, Mỹ, Úc, Singapore, Canada… đã lên tiếng công khai phê pha’n hành vi của tàu khảo s.á.t Trung Quốc là tạo sự đã rồi trên Biển Đông; vi phạm lần này của Trung Quốc đã khiến tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng và xấu đi.

Bộ Ngoại giao Mỹ cũng có tuyên bố chính thức bày tỏ lo ngại về sự cản trở của Trung Quốc đối với việc khai thác dầu mỏ và khí đốt của các nước khác ở Biển Đông. Mỹ cho rằng hành vi c.ư.ỡ.n.g ép, bă’t nạt của Trung Quốc đang đe doạ an ninh năng lượng, suy yếu thị trường năng lượng tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở; kịch l.i.ệ.t phản đối việc sử dụng vũ lực và khiêu khích trong việc khẳng định các yêu sách lãnh thổ và chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc; đồng thời yêu cầu Trung Quốc phải ngừng các hành động hăm doạ, gây hấn và làm bất ổn tình hình trong khu vực.

Trong thời gian tới, Việt Nam cần phải có những biện pha’p như thế nào để ngăn chặn những hành động này?

Theo tôi, hiện nay, Việt Nam đang đi đúng hướng khi tiếp tục phản đối trên kênh ngoại giao song phương để khẳng định lập trường kiên quyê’t, kiên trì, nhất quán trong vấn đề biển Đông, từ đó tranh thủ được dư luận quốc tế. Việt Nam có thể sử dụng các kênh đa phương khác như diễn đàn ASEAN, Liên Hợp Quốc, phong trào Không liên kết… để nêu các hành vi gây hấn, đe doạ của Trung Quốc, tạo sức ép chính trị tới Trung Quốc.

Luật pha’p quốc tế luôn là kênh q.u.a.n t.r.ọ.n.g, là điểm tựa vững chắc trong đấu tranh giành quyền lợi chính đáng của các quốc gia. Việt Nam hoàn toàn có thể tính đến việc sử dụng các biện pha’p giải quyê’t hoà bình tranh chấp khác mà luật pha’p quốc tế cho phép như như toà án, trọng tài, hoà giải… khi đàm pha’n chính thức không có tác dụng và hiệu quả. Do đó, Việt Nam nên thu thập hồ sơ bằng chứng về các vi phạm mang tính hệ thống của Trung Quốc để phục vụ cho công tác đấu tranh ngoại giao và pha’p lý về lâu dài.

Trên thực địa, các lực lượng trên biển của Việt Nam cần tiếp tục t.h.ậ.n trọng, tỉnh táo, hoạt động chuyên nghiệp, tránh bị mắc bẫy kích động của Trung Quốc. Bên cạnh đó, Việt Nam pha’t huy hơn công tác thông tin, truyền thông để dư luận trong nước và quốc tế hiểu về lập trường chính đáng, chính nghĩa, nhất quán của Việt Nam, từ đó có thể kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong đấu tranh vì lợi ích chính đáng của Việt Nam trên Biển Đông.

Xin cảm ơn những chia sẻ của bà!
Theo:http://tintucgiaitri.xyz/trung-quoc-dieu-them-hon-50-tau-tuan-duyen-xuong-khu-vuc-bai-tu-chinh

Bài viết liên quan